- 420k
- 1k
- 870
Người lao động làm việc cho các cá nhân, tổ chức chỉ mong đến ngày nhận lương có được khoản thu nhập xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Nhưng nhiều nơi không chi trả lương đúng hạn, thậm chí là nợ lương nhiều tháng liền. Tại sao lại có tình trạng nợ lương xảy ra? Chúng ta hãy cùng quân sư TalentBold tìm hiểu ngay hôm nay.
MỤC LỤC
1 - Nợ lương là gì?
2 - Nguyên nhân của tình trạng nợ lương
2.1. Kết quả kinh doanh sản xuất không như mong đợi
2.2. Do tình huống bất khả kháng
2.3. Người lao động chưa hoàn thành nghĩa vụ với doanh nghiệp
3 - Các quy định của pháp luật về việc nợ lương

Nợ lương là tình trạng người sử dụng lao động chậm trả tiền lương cho người lao động theo đúng thỏa thuận về thời gian trả lương mà đôi bên đã thống nhất và ấn định theo thời điểm có tính chu kỳ (ví dụ: nửa tháng trả lương một lần, một tháng trả lương một lần…) trong hợp đồng lao động.
Việc doanh nghiệp nợ lương người lao động có bị xem là vi phạm pháp luật hay không còn tùy thuộc vào
Trường hợp phát sinh việc chậm trả lương
Số thời gian quá hạn trả lương
Đối tượng liên quan đến việc trả lương cho người lao động.
Do đó, không hẳn nợ lương là người sử dụng lao động sai, mà sẽ căn cứ theo nguyên nhân phát sinh.
Những nguyên nhân dẫn đến nợ lương của người lao động có thể tổng hợp trong những tình huống sau đây:
Người sử dụng lao động làm ăn thua lỗ, hàng hóa không tiêu thụ được, công nợ khách hàng chưa thu hồi được… dẫn đến việc thiếu hụt nguồn tài chính chi trả lương cho người lao động. Nhưng vì vẫn có những đơn hàng cần phải hoàn thành, họ không cho thể cắt giảm nhân công mà vẫn để người lao động làm việc. Hy vọng những đơn hàng sau sẽ thu được lợi nhuận, tương lai sẽ thu đủ công nợ… trả đủ lương cho nhân công.
Tình huống này, người sử dụng lao động đã vi phạm pháp luật, nhưng có thể thuyết phục người lao động thông cảm, cùng chia sẻ khó khăn nhất thời với doanh nghiệp, không kiện tụng và tiếp tục cố gắng làm việc đến tháng tiếp theo.

>>>>Tăng ca là gì? Quy định về tăng ca
Việc nợ lương chỉ được xem là hợp pháp khi tình huống khiến người sử dụng lao động nợ lương đáp ứng khoản 4 điều 97 Bộ luật lao động 2019:
Trường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm… mà người sử dụng lao động không thể trả lương đúng hạn dù đã tìm mọi biện pháp để khắc phục thì được chậm trả lương cho người lao động không quá 30 ngày.
Ngoài những tình huống bất khả kháng, hoặc trong tình huống bất khả kháng nhưng tổ chức nợ lương quá 30 ngày thì đều bị coi là vi phạm pháp luật lao động, vi phạm quyền lợi đã thỏa thuận với người lao động.
Trường hợp người lao động xin nghỉ việc nhưng chưa hoàn thành xong nghĩa vụ tài chính với doanh nghiệp như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì phía doanh nghiệp có quyền giữ lại khoản tiền lương của tháng làm việc trước thời điểm người lao động nghỉ việc như một khoản bảo đảm bù đắp trong tình huống người lao động không tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ tài chính đó.
Tình huống này rất hay gặp ở những nhân viên kinh doanh, vì họ có trách nhiệm thu hồi công nợ từ khách hàng. Rất nhiều người xin nghỉ việc nhưng chưa thu hồi đủ công nợ, thậm chị khoản nợ còn lớn hơn khoản tiền lương và các phúc lợi tháng cuối trước khi nghỉ việc của họ. Doanh nghiệp sẽ dùng những khoản tiền này để bù đắp thiệt hại công nợ trong trường hợp không đòi được tiền khách hàng. Tuy nhiên, hành động này phải được thống nhất trong hợp đồng lao động với nhân viên khi ký kết.

Nhân tiện trong bài viết này, quân sư sẽ tổng hợp luôn những quy định của pháp luật về việc nợ lương như một cẩm nang giúp người lao động hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình khi phát sinh tranh chấp chậm trả lương.
Như đã nói ở trên, khoản 4 điều 97 Bộ luật lao động 2019 thì chỉ trong trường hợp bất khả kháng mà doanh nghiệp đã tìm mọi cách khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương cho người lao động đúng hạn thì người sử dụng lao động được quyền nợ lương không quá 30 ngày.
Thời điểm tính khoảng thời gian nợ lương sẽ bắt đầu từ ngày nhận lương được ấn định thống nhất trong hợp đồng lao động. Ví dụ, nhiều doanh nghiệp sẽ bắt đầu tính lương tháng mới từ ngày 26 của tháng trước, có doanh nghiệp thì tính từ ngày mùng 01 đầu tháng.
Lưu ý chỉ có lý do bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh…) thì doanh nghiệp mới được nợ lương 30 ngày, ngoài ra không còn tình huống nào cho phép nợ lương khi người lao động đã hoàn thành đúng phần việc của mình như cam kết trong hợp đồng lao động.
Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định
Trường hợp trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì doanh nghiệp phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Như vậy, chỉ cần trả chậm lương 15 ngày là doanh nghiệp sẽ phải bồi thường cho người lao động. Trường hợp bất khả kháng, doanh nghiệp được nợ lương không quá 30 ngày, nhưng là 30 ngày không bị cơ quan quản lý Nhà nước xử phạt, chứ vẫn phải bồi thường cho người lao động theo quy định sau 15 ngày chậm trả lương.
Khoản tiền bồi thường sẽ là (Số tiền lương trả chậm x Lãi suất kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng doanh nghiệp mở tài khoản trả lương cho nhân viên) tại thời điểm thực hiện hành động trả lương cho người lao động, chứ không phải thời điểm đáng lẽ người lao động phải nhận lương. Ví dụ: Doanh nghiệp nợ lương tháng 05,06, doanh nghiệp trả lương và tiền bồi thường vào tháng 07 thì sẽ tính lãi theo lãi suất kỳ hạn 01 tháng tại thời điểm tháng 07 đó.

>>>> Làm thế nào để thăng tiến trong công việc?
Bên cạnh phải trả đủ tiền lương, phải trả thêm khoản tiền bồi thường cho người lao động, thì phía người sử dụng lao động nợ lương còn phải chịu mức phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP :
Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 - 10 người lao động
Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 - 50 người lao động
Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 - 100 người lao động
Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 - 300 người lao động
Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên
Số lượng người lao động càng đông, mức phạt càng cao. Doanh nghiệp thường sẽ nộp phạt cho Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi doanh nghiệp đặt trụ sở, vì đây là nơi sẽ thụ lý đơn kiện của người lao động khi bị doanh nghiệp nợ lương lâu.

Điểm b khoản 2 điều 35 Bộ luật lao động 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước nếu:
Người lao động không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn (trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019)
Như vậy, nếu doanh nghiệp nợ lương do tình huống bất khả kháng mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không trả lương đúng hạn được (quy định tại khoản 4 điều 97 BLLĐ 2019) thì người lao động chỉ có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước khi việc nợ lương quá 30 ngày. Nếu không sẽ bị xem là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật.
Nợ lương là điều mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều không mong muốn, nhưng thực tế, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh vẫn xuất hiện tình trạng này. Nguyên nhân tại sao lại có tình trạng nợ lương không hoàn toàn chỉ do phía doanh nghiệp, mà đôi khi còn do phía người lao động. Chi tiết cụ thể, quân sư TalentBold đã đề cập trong bài viết, kèm theo đó là những quy định pháp luật bảo vệ công bằng quyền lợi mỗi bên mà chúng ta nên cập nhật.
------------------------------------
Chi tiết liên hệ:
Talentbold - We bold your talents
Hotline: 077 259 1080
Mail: sales@talentbold.com
Add: Tầng 12A.3, Tòa MD Complex, 68 Nguyễn Cơ Thạch, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam